Thông báo
Trang sinh viên
![]() |
Check mail | ![]() |
Đoàn thanh niên |
![]() |
Thời khóa biểu | ![]() |
Kết quả học tập |
![]() |
Hồ sơ thí sinh | ![]() |
Diễn đàn |
| Xếp loại 10 sự kiện lớn về Tài chính - Tiền tệ - Ngân hàng của Việt Nam năm 2009 |
|
|
|
|
XẾP LOẠI 10 SỰ KIỆN LỚN VỀ TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ - NGÂN HÀNG CỦA VIỆT NAM NĂM 2009
Đơn vị xếp hạng: Khoa Tài chính - Ngân hàng – Trường Đại Học Đại Nam
Năm 2009 nền kinh tế nước ta tuy gặp những biến động do khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu nhưng đã vượt qua nhiều thử thách và thu được nhiều thắng lợi to lớn.
Có rất nhiều thành tựu nổi bật nước ta đạt được trên nhiều lĩnh vực, riêng về Tài chính – Tiền tệ - Ngân hàng, theo quan điểm của các nhà khoa học, các giảng viên giảng dạy tại Khoa Tài chính – Ngân hàng của Trường Đại học Đại Nam đã xếp hạng 10 sự kiện lớn về Tài chính – Tiền tệ – Ngân hàng sau đây:
1. Chính sách tiền tệ tương đối ổn định
Trong năm 2009, Ngân hàng Nhà nước chỉ một lần giảm lãi suất cơ bản từ 8,5% xuống 7%/ năm, sau đó hết tháng 11/2009 lại tăng 8%/năm. Lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu có sự biến động nhưng không lớn, biên độ tỷ giá có 2 lần điều chỉnh nới rộng từ ± 3% lên ± 5% từ ngày 24/03 và thu hẹp lại từ ± 5% xuống ± 3% từ 26/11. Nhờ chính sách tiền tệ ổn định mà các Doanh nghiệp và tổ chức kinh tế hoạt động thuận lợi hơn, không bị ảnh hưởng bởi sự chao đảo của chính sách tiền tệ.
2. Kích cầu bằng gói hỗ trợ lãi suất
Bắt đầu từ tháng 2 đến cuối tháng 12/2009, gần 500.000 tỷ đồng đã được giải ngân đến các doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể, nới lỏng tín dụng đã tạo điều kiện cho các chủ thể kinh tế giải quyết nhu cầu vốn, kích thích sản xuất kinh doanh và giúp đưa nền kinh tế nước nhà vượt qua cơn bão khủng hoảng kinh tế - tài chính.
Tính đến ngày 17/12, dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất đã đạt 415.216,48 tỷ đồng. Trong đó, dư nợ của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước và quỹ tín dụng nhân dân Trung ương đạt 276.668,75 tỷ đồng; nhóm ngân hàng thương mại cổ phần đạt 108.762,04 tỷ đồng; nhóm ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng 100% vốn nước ngoài đạt 21.222,83 tỷ đồng; công ty tài chính đạt 8.562,86 tỷ đồng.
3. Sự thay đổi của một số sắc thuế
Năm vừa qua, ngành thuế có nhiều sự đổi mới trong chính sách thuế, luật thuế TNCN, TNDN, TTĐB mới được chính thức áp dụng. Mức thuế suất thuế TNDN giảm từ 28% xuống 25%, kết hợp với các chính sách miễn giảm thuế đối với các doanh nghiệp mới thành lập đã khuyến khích đầu tư và sản xuất trong điều kiện kinh tế khó khăn.
Cùng với gói kích cầu thứ nhất của chính phủ, thuế GTGT giảm từ 10% xuống 5% của một số mặt hàng, lệ phí trước bạ đối với xe ô tô dưới 10 chỗ giảm từ 10% – 12% xuống còn 5% - 6% đã thúc đẩy tiêu dùng toàn xã hội.
4. Hiệu quả hoạt động kinh doanh của các tập đoàn kinh tế
Theo đánh giá chung các tập đoàn kinh tế nước ta đã đóng vai trò to lớn trong việc tạo ra GDP cho nền kinh tế, quản lý một lượng vốn lớn của Nhà nước và tạo ra hàng triệu việc làm cho người lao động, làm thay đổi đáng kể bộ mặt của các doanh nghiệp, công ty. Ví dụ tập đoàn Dầu khí quốc gia, tập đoàn Than khoáng sản, tập đoàn Xi măng, thép…
Song nhìn chung, hiệu quả hoạt động kinh doanh của các tập đoàn còn rất khiêm tốn, chưa tương xứng với quy mô và lượng vốn sử dụng; nhiều tập đoàn có tỷ suất lợi nhuận vốn còn thấp nhưng thu nhập của các lãnh đạo lại rất cao, ví dụ qua báo cáo của Kiểm toán Nhà nước tại Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) và kiểm toán cấp bù lỗ tại các đầu mối nhập khẩu xăng dầu cho thấy đã có hàng nghìn tỷ đồng bị chi sai và hàng loạt sai phạm nghiêm trọng. Vốn nhà nước bị chiếm dụng khá lớn, ví dụ nguồn vốn của SCIC tại thời điểm 31/12/2008 là 40.718 tỷ đồng, trong đó nợ phải trả là 27.302 tỷ đồng (chiếm 67%).
5. Cổ phần hóa doanh nghiệp diễn ra còn chậm
Một số ngân hàng đẩy mạnh niêm yết như VCB của Vietcombank, CTG của Viettinbank, EIB của Eximbank và SHB (Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội) của SHB.
Song kế hoạch cổ phần hóa của các ngân hàng thương mại Nhà nước vẫn diễn ra một cách chậm chạp năm 2009, đã có một số ngân hàng như Agribank (Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thông), BIDV (Ngân hàng Đầu tư và Phát triển), MHB (Ngân hàng Hằng Hải) đã lên kế hoạch cổ phẩn hóa từ năm 2007 nhưng đến nay vẫn chưa được triển khai, cần tiếp tục đẩy mạnh tiến trình cổ phần hóa Doanh nghiệp Nhà nước trong những năm tới.
6. Hoạt động của thị trường chứng khoán với nhiều biến động chao đảo
Vào thời khắc đỉnh cao của chứng khoán Việt Nam năm 2007 khi VN-INDEX vọt trên 1000 điểm, không ai ngờ chỉ số này có ngày tuột dốc xuống dưới 250 điểm. Giao dịch rơi vào cảnh chợ chiều, không ai thiết tha mua bán, khiến suốt quý I, số phiên có khối lượng giao dịch vượt 30 triệu chứng khoán chỉ đếm trên đầu ngón tay.
Thị trường chứng khoán giảm điểm, một phần do tâm lý nhà đầu tư bị ảnh hưởng bởi việc ngân hàng thắt chặt tín dụng, nhiều ngân hàng thu tiền về để giảm dư nợ cho vay. Song 2009 vẫn được xem là một năm khá thành công của Vn- Index, bởi chỉ số tăng gần 60% so với mức khởi điểm hồi đầu năm. Hiện tại, giới đầu tư kỳ vọng nhiều vào sự phục hồi của thị trường để đón đầu năm 2010, khi các ngân hàng, công ty tài chính công bố kế hoạch giải ngân theo hạn mức tín dụng của năm mới.
7. Thị trường bất động sản biến động mạnh
Với cơn sốt giá sau gần 1 năm, có lúc giá bị đẩy lên từ 30 – 50 lần so với giá gốc, không có mặt hàng kinh doanh nào lại tăng giá mạnh và nhanh như vậy. Song bất ngờ từ tháng 1/ 2009, giá nhà đất bỗng dưng rơi vào ảm đạm giống một quả bong đã xì hơi. Chính sách thuế thu nhập đối với việc chuyển nhượng bất động sản cũng ít nhiều ảnh hưởng đến thị trường. Có thể sự tăng giá bất động sản ở Việt Nam sẽ bắt đầu vào năm 2010 và dần dần đi vào ổn định.
8. Giá vàng và giá USD biến động mạnh
Từ đầu tháng 11/2009, giá vàng đã đứng ở mức 23 triệu đồng/ lượng, đến 11/11/2009, đã lên đến 29,3 triệu đồng/ lượng, cá biệt có nơi lên đến 30 triệu đồng/lượng, có thể khái quát một số nguyên nhân như sau:
- Chịu ảnh hưởng của biến động giá vàng thế giới và sự suy yếu của đồng USD.
- Sự mất cân đối cung cầu về vàng từ đầu năm 2009. - Yếu tố đầu cơ trục lợi, yếu tố tâm lý đám đông. Giá USD cũng thay đổi, giá USD trên thị trường tự do cũng leo thang. Cuối tháng 11/2008, giá USD ngoài thị trường chợ đen khoảng 17.600VND/USD, nhưng đến cuối tháng 11/2009 đã lên đến gần 20.000VND/USD.
9. ODA đạt mức kỷ lục, FDI giảm
Mặc dù khủng hoảng kinh tế vẫn đang diễn ra trên toàn thế giới nhưng hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) dành cho Việt Nam vẫn đạt mức cao kỷ lục từ trước đến nay với mức tài trợ là 8,06 tỷ USD, vượt xa con số 5,4 tỷ USD trước đó tại hội nghị CG (hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ) năm 2007. Ngân hàng Thế giới vẫn là nhà tài trợ hàng đầu của Việt Nam với con số cam kết lên tới 2,498 tỷ USD, tiếp đến là Nhật Bản với 1,640 tỷ USD.
Theo số liệu của Bộ kế hoạch và Đầu tư, năm 2009 Việt Nam chỉ thu hút được khoảng 21 tỷ USD đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vượt chỉ tiêu đề ra 1 tỷ USD. Tuy nhiên số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài này chỉ bằng 30% so với năm ngoái.
10. Ngành bảo hiểm vượt qua thách thức của suy thoái kinh tế toàn cầu
Tổng doanh thu phí bảo hiểm ước cả năm 2009 đạt khoảng 24.646 tỷ đồng, tăng 8,18% so với năm 2008, trong đó doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ khoảng 13.500 tỷ đồng, tăng 23% so với năm 2008. Doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ khoảng 11.146 tỷ đồng, tăng 7,8% so với năm 2008.
Doanh thu hoạt động đầu tư ước đạt 6.016 tỷ đồng, trong đó phi nhân thọ đạt 1.350 tỷ, nhân thọ đạt 4.666 tỷ, tăng 17% so với 2008. Tổng phí bảo hiểm thu xếp qua môi giới ước cả năm 2009 là 1.581 tỷ đồng, tương đương 85% tổng phí thu xếp cả năm 2008
Tổng hoa hồng môi giới bảo hiểm nhận được là 221 tỷ đồng. Các nghiệp vụ bảo hiểm chính được thu xếp qua môi giới là: bảo hiểm tài sản và thiệt hại, chiếm 31,9%, bảo hiểm sức khoẻ và tai nạn con người (28,73%), bảo hiểm trách nhiệm chung (12,24%).
Ngành bảo hiểm thể hiện là tấm lá chắn kinh tế cho các tổ chức cá nhân tham gia bảo hiểm với mức bồi thường trên 500 tỉ đồng nhằm khắc phục hậu quả cơn bão số 9 và số 11 tại miền Trung.
Trong năm 2009, ngành bảo hiểm đã huy động đầu tư trở lại nền kinh tế khoảng 69.000 tỷ đồng tăng hơn 10 nghìn tỷ đồng so với năm 2008. Năm 2009 cũng là năm bùng nổ sản phẩm bảo hiểm mới, 100 sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ, 50 sản phẩm bảo hiểm nhân thọ mới đưa ra thị trường, tạo sự lựa chọn và phục vụ chăm sóc khách hàng ngày một tốt hơn.
Khoa Tài chính - Ngân hàng
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|















